Dấu hiệu oan sai đã rõ, cần đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bị can vụ 4 cán bộ ở Tuy Hòa kêu oan

Đó là ý kiến của Luật sư Trần Hải Đức và 7 Luật sư thuộc Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sau khi Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an TP. Tuy Hòa chỉ đề nghị truy tố 2/9 bị can.

Ông Võ Công Toàn cùng 3 cán bộ Nguyễn Anh Tuấn, Trần Minh Thủ và Nguyễn Mạnh Tín liên tục kêu oan.

Theo dõi vụ án, Luật sư Trần Hải Đức từng nêu quan điểm: “Hành vi của các bị can trong vụ án này không đủ yếu tố cấu thành tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” và “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Bởi thửa đất thuộc quyền sử dụng của người dân, việc cấp Giấy chứng nhận đúng quy định, các khoản thuế, phí đều được thu đúng, thu đủ. CQCSĐT quy kết các bị can đã gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước 253.510.000 đồng là không có căn cứ pháp lý…”.

Từ “kiến nghị khởi tố của Thành ủy Tuy Hòa”

Liên quan đến vụ kỳ án này, Tạp chí Luật sư Việt Nam đã có hai bài viết với tựa đề: “Mong manh chứng cứ khởi tố, lộ rõ dấu hiệu oan sai?” (đăng ngày 28/5/2021) và “Nhiều “lỗ hổng” trong kết luận giám định của Chi cục Quản lý đất đai” (đăng ngày 11/6/2021).

Nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lô đất 193,4m2 thuộc thửa số 36, tờ bản đồ số 57 tại khu phố 3, phường Phú Đông, TP. Tuy Hòa của bà Trần Thị Thảo bán giấy tay năm 2000 cho vợ chồng ông Nguyễn Thái Lân xây hai căn nhà nhỏ 32m2 và 35m2 để ở.

Ngày 22/7/2012, ông Lân bán lại nhà, đất trên cho ông Trần Ngọc Hiếu với giá 280.000.000 đồng cũng bằng giấy viết tay. Khoảng tháng 5/2015, ông Hiếu làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 36 (gọi tắt “GCN”).

Cán bộ địa chính phường Phú Đông xác định ông Hiếu không đủ điều kiện, nếu muốn được cấp phải do chủ đất cũ là ông Lân đứng tên đề nghị. Được sự hỗ trợ tích cực của ông Lân, ngày 18/5/2015, ông Hiếu nộp hồ sơ đề nghị cấp GCN đứng tên vợ chồng ông Lân.

Ông Võ Công Toàn cùng 3 cán bộ Nguyễn Anh Tuấn, Trần Minh Thủ và Nguyễn Mạnh Tín liên tục kêu oan

Hội đồng đăng ký quyền sử dụng đất phường Phú Đông họp xét ngày 12/6/2015, kết luận “đủ điều kiện cấp GCN”. Hồ sơ được chuyển đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai TP. Tuy Hòa thẩm định “đủ điều kiện” nên chuyển cho Chi cục thuế tính thuế ngày 19/01/2016. Sau khi ông Hiếu nộp đủ 100% tiền sử dụng đất và các khoản lệ phí theo quy định (tổng cộng các khoản là 83.006.000 đồng), Phòng TN&MT đã có Tờ trình ngày 16/3/2016. Căn cứ hồ sơ, ngày 05/04/2016, UBND TP. Tuy Hòa cấp GCN số CD 577588 cho vợ chồng ông Lân. Ngày 08/4/2016, vợ chồng ông Lân ký hợp đồng công chứng chuyển nhượng nhà, đất lại cho ông Hiếu, được cập nhật sang tên ngày 09/4/2016.

Ngoài vợ chồng ông Lân, tại phường Phú Đông còn còn 5 hộ dân sử dụng các thửa đất có nguồn gốc tương tự, đều được UBND TP. Tuy Hòa cấp GCN.

Hồ sơ thể hiện: Ngày 01/02/2018, CQCSĐT Công an TP. Tuy Hòa tiếp nhận giải quyết “Kiến nghị khởi tố của Thành ủy Tuy Hòa” liên quan đến việc UBND TP. Tuy Hòa cấp 6 GCN (bao gồm GCN số CD 577588), không đúng quy định, có dấu hiệu vi phạm pháp luật, xảy ra từ năm 2014 đến 2016.

Ngày 26/3/2018, CQCSĐT Công an TP. Tuy Hòa có văn bản đề nghị gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh nguồn tin. VKSND TP. Tuy Hòa đã có quyết định gia hạn hết ngày 31/5/2018.

Ngày 04/5/2018, CQCSĐT ra Quyết định số 205/CQĐT, trưng cầu Chi cục Quản lý đất đai thuộc Sở TN&MT tỉnh Phú Yên, giám định “nguồn gốc sử dụng đất và tính hợp pháp của việc cấp GCN số CD 577588”.

Đến đình chỉ giải quyết “kiến nghị khởi tố”, rồi khởi tố vụ án

Căn nhà xây trên thửa đất 36.

Ngày 01/6/2018, CQCSĐT đã ra Quyết định số 17/CSĐT “Tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm”, gửi Thành ủy Tuy Hòa.

Quyết định nêu rõ: “CQCSĐT đã ra quyết định trưng cầu giám định và yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả. Đến nay đã hết thời hạn giải quyết Kiến nghị khởi tố của Thành ủy Tuy Hòa nhưng chưa đủ tài liệu, chứng cứ để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc cấp 6 GCN của UBND TP. Tuy Hòa”. Từ đó, CQCSĐT quyết định “Tạm đình chỉ giải quyết Kiến nghị khởi tố của Thành ủy Tuy Hòa”.

Cùng ngày 01/6/2018, CQCSĐT có Văn bản số 860/CQĐT-KT gửi VKSND TP. Tuy Hòa về việc “Tạm đình chỉ giải quyết kiến nghị khởi tố” để kiểm sát điều tra.

Về phía Chi cục Quản lý đất đai, sau khi tiếp nhận Quyết định trưng cầu số 205/CQĐT ngày 04/5/2018 của CQCSĐT, cơ quan này “ngâm” hơn 10 tháng.

Đến ngày 29/3/2019, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý đất đai lúc này là ông Lương Công Thành ký “Kết luận giám định tư pháp” (KLGĐTP) lần 1, xác định 2 điểm mấu chốt:

– Nguồn gốc sử dụng đất của ông Nguyễn Thái Lân thuộc trường hợp có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01/07/2014, nhưng phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được UBND tỉnh Phú Yên phê duyệt tại Quyết định số 1523/QĐ-UBND ngày 09/9/2013.

– Tại thời điểm cấp GCN năm 2016, ông Lân không đang sử dụng đất vì đã chuyển nhượng bằng giấy tay cho ông Trần Ngọc Hiếu nên không thuộc trường hợp được cấp GCN theo điểm a, khoản 1, Điều 99, Luật Đất đai năm 2013. UBND TP. Tuy Hòa cấp GCN cho vợ chồng ông Lân không đúng quy định.

Nhận KLGĐTP từ cuối tháng 3/2019 nhưng đến ngày 10/01/2020, Thượng tá Lê Minh Hải, Phó Thủ trưởng CQCSĐT Công an TP. Tuy Hòa mới ký Quyết định số 35/CSKT trưng cầu Cục Thuế tỉnh Phú Yên giám định về “Nghĩa vụ tài chính liên quan đến việc cấp GCN số CD 577588” có gây thiệt hại cho Nhà nước hay không? Nếu có thì thiệt hại bao nhiêu tiền? Trách nhiệm thuộc về cơ quan, cá nhân và theo quy định tại văn bản pháp luật nào?

Các Quyết định trưng cầu giám định của CQCSĐT – Công an TP. Tuy Hoà.

Tại Kết luận giám định ngày 13/02/2020, Cục Thuế tỉnh Phú Yên xác định: “Tại thời điểm Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai TP. Tuy Hòa chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính ngày 19/01/2016, cơ quan thuế xác định tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ ông Nguyễn Thái Lân nộp cho ngân sách Nhà nước theo đúng quy định. Tuy nhiên, theo KLGĐTP ngày 29/3/2019 của Chi cục Quản lý đất đai, GCN số CD 577588 không đúng đối tượng đang sử dụng. Do vậy, trong trường hợp này, không phát sinh nghĩa vụ phải nộp tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ cho ngân sách Nhà nước của hộ ông Lân”.

Tiếp đến, ngày 19/02/2020, Phó Thủ trưởng Lê Minh Hải ký Quyết định số 67/CSĐT trưng cầu Chi cục Quản lý đất đai “Giám định bổ sung”, xác định trách nhiệm cá nhân sai phạm do hành vi cấp GCN số CD 577588.

Ngày 06/3/2020, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý đất đai lúc này thay bằng ông Phạm Ngọc Hùng, ký KLGĐTP lần 2, kết luận trách nhiệm những người liên quan:

Việc họp xét nguồn gốc đất, lấy ý kiến khu dân cư, niêm yết công khai thuộc trách nhiệm của cán các bộ phường Phú Đông, gồm các ông: Huỳnh Quốc Trí (Phó Chủ tịch UBND phường); Biện Khắc Dũng và Đinh Khắc Thuật (hai Cán bộ địa chính); Nguyễn Thanh Đạt (Cán bộ không chuyên trách); Trần Việt Hòa (Trưởng khu phố 3); Trần Phương Nam và Võ Thị Thu Trang (Công chức tư pháp)…

Việc kiểm tra hồ sơ, xác nhận đủ điều kiện: Có thiếu sót của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai TP. Tuy Hòa, thuộc trách nhiệm của nhân viên Nguyễn Anh Tuấn và Phó giám đốc Trần Minh Thủ. Việc thẩm định hồ sơ có thiếu sót của phòng TN&MT TP. Tuy Hòa, thuộc trách nhiệm của chuyên viên Nguyễn Mạnh Tín và Phó Trưởng phòng Võ Công Toàn (đã chuyển công tác)…

Ngày 17/4/2020, Phó thủ trưởng CQCSĐT Lê Minh Hải ký liền 2 Quyết định số 123/CSĐT-KT và 124/CSĐT-KT trưng cầu Chi cục Quản lý đất đai và Giám định viên tư pháp chuyên ngành tài chính kế toán – Sở Tài chính tỉnh Phú Yên “Giám định thiệt hại của Nhà nước trong việc cấp GCN số CD 577588”.

Hàng loạt KLGĐTP của Chi cục Quản lý đất đai thuộc Sở TN&MT tỉnh Phú Yên.

Ngày 29/4/2020, Chi cục trưởng Phạm Ngọc Hùng ký KLGĐTP lần 3, nêu rõ: Việc xác định thiệt hại của Nhà nước trong cấp GCN số CD 577588 thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng.

Trước đó, Chánh Thanh tra Sở Tài chính Phú Yên Nguyễn Thanh Hào, ký Văn bản số 27/TTr ngày 21/4/2020, nêu rõ: Việc xác định thiệt hại của Nhà nước trong cấp GCN số CD 577588 thuộc trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng TP. Tuy Hòa.

Ngày 05/6/2020, Phó Thủ trưởng CQCSĐT Lê Minh Hải bất ngờ ký Quyết định số 68 khởi tố vụ án hình sự. Hơn nửa năm sau, ngày 07/01/2021, Phó Thủ trưởng Lê Minh Hải ký quyết định khởi tố bị can đối với hai cán bộ địa chính Biện Khắc Dũng và Đinh Khắc Thuật về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo Điều 356, Bộ luật Hình sự.

Đến ngày 06/4/2021, Phó Thủ trưởng Lê Minh Hải ký Quyết định số 06 “Khởi tố vụ án hình sự bổ sung” và ký 7 quyết định khởi tố 7 bị can về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 360, Bộ luật Hình sự, gồm các ông: Huỳnh Quốc Trí, Nguyễn Thanh Đạt, Trần Việt Hòa, Nguyễn Anh Tuấn, Trần Minh Thủ, Nguyễn Mạnh Tín và Võ Công Toàn.

3 lần điều tra bổ sung, chỉ còn 2/9 bị can bị đề nghị truy tố

KLGĐTP lần1 ngày 29/3/2019 không có chữ ký của ông Trần Minh Thủ.

Ngày 04/6/2021, Phó thủ trưởng CQCSĐT Lê Minh Hải ký bản Kết luận điều tra số 55/CSĐT-ĐCSKT, đề nghị truy tố 9 bị can.

Liên quan đến thiệt hại, do các cơ quan từ chối giám định, CQCSĐT lấy kết quả “định giá tài sản” thửa đất 36 làm căn cứ để xác định thiệt hại.

Cụ thể, ngày 04/5/2018, CQCSĐT có văn bản yêu cầu định giá tài sản đối với thửa đất 36. Ngày 30/10/2019, Hội đồng định giá tài sản theo vụ việc TP. Tuy Hòa gồm 5 thành viên mở phiên họp, thống nhất xác định: Thửa đất 36 với 193,4m2 là đất ở đô thị, tại thời điểm tháng 4/2016, có giá thị trường 1.740.000 đồng/m2, thành tiền 336.516.000 đồng.

CQCSĐT xác định thiệt hại theo “công thức” tính như sau: Lấy kết quả định giá thửa đất 336.516.000 đồng trừ đi số tiền mà ông Trần Ngọc Hiếu đã nộp 83.006.000 đồng (CQCSĐT gọi là “chi phí hợp lý”) cho ra con số 253.510.000 đồng là “thiệt hại cho Nhà nước” do hành vi cấp GCN gây ra. Số tiền 253.510.000 đồng được Phó Thủ trưởng Lê Minh Hải lấy làm căn cứ để đề nghị truy tố 9 bị can thể hiện rõ trong Kết luận điều tra số 55/CSĐT-ĐCSKT.

VKSND TP. Tuy Hòa đã có hai lần trả hồ sơ để điều tra bổ sung thể hiện tại các Quyết định số 23/VKS-HS ngày 18/6/2021 và Quyết định số 31/VKS-HS ngày 24/9/2021. Bên cạnh đó, CQCSĐT Công an TP. Tuy Hòa cũng đã có hai Kết luận điều tra bổ sung ngày 18/8/2021 và ngày 24/11/2021 (đều do Phó Thủ trưởng Lê Minh Hải ký) giữ nguyên quan điểm đề nghị truy tố 9 bị can.

Trong diễn biến mới nhất, ngày 22/5/2022, VKSND TP. Tuy Hòa ra Quyết định số 09/QĐ-VKSTH, trả hồ sơ để CQCSĐT điều tra bổ sung lần thứ ba.

Sau hai lần ra Kết luận điều tra bổ sung giữ nguyên quan điểm, ngày 25/07/2022, Phó Thủ trưởng Lê Minh Hải ký Kết luận điều tra bổ sung lần ba số 07/BKL-CSĐT (ĐCSKT), xác định: Theo yêu cầu của VKSND TP. Tuy Hòa, CQCSĐT đã có văn bản đề nghị UBND TP. Tuy Hòa thu hồi GCN số CD577588. Đối với nội dung yêu cầu khắc phục thiệt hại do cấp GCN gây ra, các bị can không tự nguyện bồi thường.

Kết luận “giám định tài sản” biến thành “thiệt hại” trong vụ án.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, CQCSĐT xác định: Biện Khắc Dũng và Đinh Khắc Thuật đã cố ý làm trái công vụ, dẫn đến cấp GCN số CD577588 không đúng quy định, gây thiệt hại tài sản của Nhà nước 253.510.000 đồng. Từ đó, CQCSĐT đề nghị truy tố hai bị can Dũng – Thuật theo khoản 2, Điều 356, Bộ luật Hình sự.

Đối với 7 cán bộ bị khởi tố tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, cần xem xét xử lý toàn diện hành vi phạm tội của các bị can nhưng đến nay thời hạn điều tra bổ sung đã hết nên CQCSĐT ra Quyết định số 05 ngày 25/7/2022 tách thành một vụ án riêng để xử lý.

Đủ căn cứ để đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bị can

Văn bản số 1533/VKSTC-C1 (P1) của Cơ quan điều tra VKSND Tối cao.

Dù thoát khỏi bị truy tố trong lần điều tra bổ sung thứ ba, nhưng 4 cán bộ gồm các ông: Võ Công Toàn, Trần Minh Thủ, Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Mạnh Tín vẫn mang thân phận là bị can nên tiếp tục có đơn kêu oan, chứng minh đã tham mưu cấp GCN số 577588 đúng đối tượng, không gây thiệt hại. CQCSĐT Công an TP. Tuy Hòa quy kết tội “thiếu trách nhiệm” cho 4 cán bộ là hoàn toàn không có cơ sở, gây oan sai nghiêm trọng.

Thứ nhất, tại Báo cáo kết luận số 14-BC/ĐKT ngày 11/7/2017, Đoàn kiểm tra của Thành ủy Tuy Hòa cho rằng việc cấp 6 GCN đất tại phường Phú Đông (bao gồm GCN số CD577588) có dấu hiệu vi phạm về quy hoạch nên Thành ủy Tuy Hòa đã kiến nghị khởi tố.

Tuy nhiên, việc sử dụng đất không vi phạm về quy hoạch. Điều này đã được chính Chi cục Quản lý đất đai đã khẳng định, thửa đất 36 phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được UBND tỉnh Phú Yên phê duyệt tại Quyết định 1523/QĐ-UBND ngày 09/9/2013.

Liên quan đến vấn đề cốt lõi này, ngày 17/04/2018, CQCSĐT đã có văn bản gửi Phòng Quản lý đô thị và Phòng TN&MT TP. Tuy Hòa, cả hai cơ quan này đã có văn bản khẳng định cả 6 thửa đất được cấp GCN thuộc quy hoạch sử dụng đất ở tại đô thị.

Trong 6 GCN đã cấp có nguồn gốc đất giống nhau, có 5 GCN được CQCSĐT khẳng định cấp đúng quy định (nếu có thiếu sót về trình tự thủ tục thì cũng chỉ thu hồi và cấp lại cho các hộ này). Duy chỉ có ông Nguyễn Thái Lân chuyển nhượng đất cho ông Hiếu sau ngày 01/1/2008 thì bị quy kết cấp không đúng, xử lý hình sự. Nếu ông Lân không chuyển nhượng thì là cấp đúng. Điều này quá vô lý.

Thứ hai, CQCSĐT căn cứ vào KLGĐTP lần 1 ngày 29/3/2019 của Chi cục Quản lý đất đai để quy kết hành vi của 4 cán bộ. Trong khi đó, Luật sư Trần Hải Đức và nhóm 7 Luật sư đã chỉ ra KLGĐTP lần 1 vi phạm nghiêm trọng cả về hình thức lẫn nội dung, trái với Luật Giám định tư pháp năm 2012, nên không có giá trị pháp lý để làm căn cứ giải quyết vụ án. Cụ thể:

Cả 5 thành viên tiến hành giám định là 5 người trong “Tổ giúp việc” được thành lập theo Quyết định số 147/QĐ-STNMT ngày 05/7/2018 của Sở TN&MT tỉnh Phú Yên.

Trong 5 thành viên của “Tổ giúp việc” kiêm “Giám định”, có 2 người ngoài Chi cục Quản lý đất đai là ông Triệu Chính Nhứt (Phó Chánh thanh tra Sở TN&MT tỉnh Phú Yên) và ông Trần Minh Thủ (nằm trong nhóm cán bộ có liên quan đến việc cấp 6 GCN bị Thành ủy Tuy Hòa kiến nghị khởi tố). Ông Thủ không ký vào KLGĐTP lần 1, sau đó trở thành bị can trong vụ án, liên tục kêu oan.

KLGĐTP lần 1 cho rằng việc cấp GCN số CD577588 cho vợ chồng ông Lân sai đối tượng, vi phạm điểm a, khoản 1, Điều 99, Luật Đất đai năm 2013. Trong khi đó, có đủ căn cứ để khẳng định GCN này cấp đúng đối tượng, tuân thủ quy định pháp luật. Quy trình cấp đã được làm rõ, tuy có thiếu sót nhưng chỉ mang tính hành chính, không có dấu hiệu tiêu cực, không làm sai lệch hay thay đổi bản chất của hồ sơ cấp GCN.

Thứ ba, tài liệu, chứng cứ thể hiện rõ, vợ chồng ông Lân mua thửa đất 36 năm 2000 bằng giấy tay. Năm 2011, ông Lân lập thủ tục xin cấp GCN nhưng không được giải quyết vì khi đó còn áp dụng Luật Đất đai 2003, chưa có quy định cụ thể đối với trường hợp này. Khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực, những trường hợp mua bán đất giấy tay trước ngày 01/1/2008 được pháp luật công nhận theo khoản 3, khoản 5, Điều 22; khoản 2, Điều 7, và khoản 1, Điều 82, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Vợ chồng ông Lân chuyển nhượng đất bằng giấy tay cho ông Hiếu năm 2012, không được pháp luật thừa nhận do diễn ra sau ngày 01/1/2008 nên thửa đất 36 vẫn thuộc quyền sử dụng của ông Lân. Căn cứ theo Bản đồ đo đạc năm 2010 và Sổ mục kê đất đai lập ngày 03/7/2015 có xác nhận của Sở TN&MT tỉnh Phú Yên thì thửa đất 36 vẫn do ông Lân đứng tên.

Như vậy, trước đây cũng như tại thời điểm cấp GCN, thửa đất 36 do vợ chồng ông Lân là người sử dụng. Mặc dù, ông Hiếu đang ở trên đất nhưng ông Hiếu không phải là người có quyền sử dụng đất do mua đất của ông Lân không được pháp luật công nhận.

Xét vợ chồng ông Lân đủ điều kiện nên UBND TP. Tuy Hòa đã cấp GCN thửa đất là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Nhiều trường hợp tương tự ông Lân trên địa bàn cả nước đều được xét cấp GCN như thế.

Trên thực tế, khi bán đất năm 2012, ông Lân có hứa hỗ trợ nên đã cùng ông Hiếu lập thủ tục xin cấp GCN rồi tiến hành ký công chứng Hợp đồng chuyển nhượng theo quy định pháp luật, khắc phục việc mua bán giấy tay. Việc làm này hợp tình, hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước quản lý, thu thuế đối với thửa đất 36 theo quy định.

Thứ tư, theo Kết luận điều tra bổ sung lần 3, CQCSĐT đã yêu cầu thu hồi GCN số CD577588 nhưng UBND TP. Tuy Hòa không thực hiện do không có căn cứ để thu hồi.

Mặt khác, vợ chồng ông Lân đã ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông Hiếu, có công chứng, đã được cập nhật sang tên ngày 09/4/2016, nên càng không thể thu hồi GCN, theo khoản 3, Điều 106, Luật Đất đai và khoản 5, khoản 6, Điều 87, Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Hơn nữa, đến thời điểm hiện nay, chưa có văn bản nào của Thanh tra cùng cấp hay văn bản có hiệu lực cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kết luận việc cấp GCN là sai đối tượng nên càng không có cơ sở để thu hồi GCN.

Thứ năm, cho đến thời điểm này, chưa có bất kỳ một văn bản nào xác định cấp GCN số CD577588 gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước. Thực tế, GCN số CD577588 được cấp đúng nên không gây thiệt hại.

Việc CQCSĐT lấy kết quả “định giá tài sản” thửa đất 36 làm căn cứ để xác định thiệt hại là hoàn toàn trái pháp luật; đưa ra “công thức” tính thiệt hại lại càng sai hơn. Thửa đất 36 của người dân sử dụng ổn định, đủ điều kiện để cấp GCN, việc tính thuế căn cứ vào khoản 2, Điều 7, Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Tại thời điểm năm 2016, việc cấp GCN cho ai đi nữa cũng thu tiền bằng với số tiền mà ông Lân đã nộp.

Chính Cục Thuế tỉnh Phú Yên đã xác định, cơ quan thuế đã thu tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ do ông Lân nộp cho ngân sách Nhà nước đúng quy định. Cả 5 trường hợp tương tự mà Thành ủy Tuy Hòa kiến nghị khởi tố đều thực hiện nghĩa vụ tài chính giống như ông Lân, căn cứ theo bảng giá đất do UBND tỉnh Phú Yên ban hành. Cả 5 GCN này đều được CQCSĐT khẳng định cấp đúng quy định. Ngay cả khi GCN số CD 577588 cấp không đúng đối tượng bị thu hồi, cũng không gây thiệt hại cho Nhà nước. Điều này cũng được Cục Thuế tỉnh Phú Yên xác định rõ tại Kết luận giám định ngày 13/02/2020.

CQCSĐT đã tự mâu thuẫn khi cho rằng GCN cấp không đúng, nhưng lại công nhận số tiền ông Lân đã nộp xem đây “chi phí hợp lý” rồi áp đặt phép tính “cộng, trừ” hết sức vô lý. Từ đó, CQCSĐT quy kết số tiền gây thiệt hại cho Nhà nước hoàn toàn không có căn cứ, trái quy định của pháp luật.

Luật sư Trần Hải Đức và nhóm 7 Luật sư thuộc nêu quan điểm: “Từ Kết luận điều tra bổ sung lần 3 của CQCSĐT Công an TP. Tuy Hòa, dấu hiệu oan sai trong vụ án này đã lộ rõ hơn bao giờ hết. Do đó, CQCSĐT Công an TP. Tuy Hòa cần nhìn thẳng vào sự thật, không nên kéo dài mà xem xét, đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bị can để giảm thiểu thiệt hại cho các bên”.

Trong đơn kêu oan mới nhất, nhóm cán bộ một lần nữa khẩn thiết đề nghị lãnh đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật tỉnh Phú Yên xem xét lại toàn bộ hồ sơ, bản chất của vụ án, từ đó chỉ đạo CQCSĐT Công an TP. Tuy Hòa thu hồi Kết luận điều tra số 55/CSĐT-ĐCSKT ngày 04/6/2021; hủy bỏ các Quyết định khởi tố bị can, khôi phục quyền lợi hợp pháp cho các cán bộ bị hàm oan; đồng thời không liệt vụ án này vào diện án điểm do Thành ủy theo dõi vì không có tiêu cực tham nhũng, tham ô, trong việc tham mưu cấp GCN số CD 577588…

Liên quan đến vụ kỳ án này, ngày 17/05/2022, Cơ quan điều tra VKSND Tối cao đã có Văn bản số 1533/VKSTC-C1 (P1) do Phó thủ trưởng Lê Hồng Thanh ký, gửi VKSND tỉnh Phú Yên, nêu rõ: “Cơ quan điều tra VKSND Tối cao nhận được đơn của các ông Võ Công Toàn, Trần Minh Thủ, Nguyễn Mạnh Tín và Nguyễn Anh Tuấn, nội dung: “Đề nghị đình chỉ điều tra vụ án, bị can đối với các ông về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Các ông cho rằng, CQCSĐT Công an TP. Tuy Hòa khởi tố, điều tra đối với các công là oan sai.

Xét thấy nội dung đơn là khiếu nại, tố cáo tố tụng hình sự. Cơ quan điều tra VKSND Tối cao chuyển đến VKSND tỉnh Phú Yên để giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết, nếu phát hiện dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, thì thu thập tài liệu chuyển đến Cơ quan điều tra VKSND Tối cao để xử lý theo quy định của pháp luật”.

Theo lsvn.vn

Bài trướcThe Secret Côn Đảo tổ chức hoạt động Chạy Bộ Vì Rùa Biển kỉ niệm 2 năm thành lập 
Bài tiếp theoKTS – Nền tảng công nghệ “make in Việt Nam” kết nối trung gian giữa người bán & người mua