Tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng trí thức và những bài học quý báu cho hôm nay

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Điều này hiển nhiên đúng với mọi quốc gia, mọi dân tộc. Với một đất nước phải trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, hàng trăm năm bị thực dân Pháp đô hộ, hai chục năm giải phóng, thống nhất đất nước như Việt Nam ta thì tư tưởng này càng đúng đắn hơn bao giờ hết. Coi trọng, đề cao vai trò của tri thức và đội ngũ trí thức trong công cuộc dựng xây và bảo vệ đất nước là một trong những tư tưởng, đường lối mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn đề cao trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Tìm hiểu về cuộc đời của Lãnh tụ kính yêu và những tư tưởng của Người trong việc trọng dụng đội ngũ trí thức qua từng giai đoạn thăng trầm của lịch sử dân tộc thế kỷ XX, chị Phùng Thu Hiền – Chi bộ 10 – Đảng bộ Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Sở Giao dịch đã có những suy ngẫm, tổng kết vô cùng thuyết phục. Chúng tôi xin trích đăng nguyên văn bài viết này.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng trí thức và những bài học quý báu cho hôm nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một danh nhân văn hóa thế giới, một thiên tài quân sự của nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng ở thế kỷ 20. Hồ Chí Minh – Một trí thức tầm cỡ của thời đại – Người luôn đề cao vai trò của tri thức và chú trọng đến việc trọng dụng đội ngũ trí thức. Người đã từng khẳng định một cách dứt khoát: “Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều”

Trong lần trả lời các nhà báo nước ngoài về vai trò, vị trí của đội ngũ trí thức trong nhận thức, chính sách của Chính phủ cũng như trong thực tiễn cách mạng ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế”.

Mục đích sử dụng trí thức của Người là nhằm vào việc cải tạo thế giới, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Hồ Chí Minh định nghĩa về trí thức: “Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác”. Người nói đến con người tri thức không chỉ là tri thức trên sách vở mà tri thức đó phải được áp dụng vào thực tế. Điều quan trọng nhất đối với trí thức là phải kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, lý luận phải đem ra thực hành, thực hành nhằm theo lý luận.

Khi nói đến con đường hình thành và phát triển đội ngũ trí thức mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài “Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc”, đã viết: “Đào tạo trí thức mới, cải tạo trí thức cũ. Công nông trí thức hóa. Trí thức công nông hóa”. Người còn giải thích rằng: “Công nông trí thức hóa. Trí thức công nông hóa” nghĩa là “Công nông cần học tập văn hóa để nâng cao trình độ tri thức của mình, trí thức cần gần gũi công nông và học tập tinh thần, nghị lực, sáng kiến và kinh nghiệm của công nông”. Và trong thời kỳ hiện đại ngày nay, kinh tế tri thức chiếm vị trí ngày càng lớn trong quá trình phát triển đất nước, vì vậy quan điểm “Công nông trí thức hóa. Trí thức công nông hóa” càng có ý nghĩa nhằm tiến tới xây dựng sự đoàn kết chặt chẽ giữa công nhân, nông dân và trí thức, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi trí thức phải biết lấy việc phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc làm mục tiêu phấn đấu suốt đời của mình, hơn nữa trí thức phải đồng hành với dân tộc, cùng dân tộc tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước phồn vinh, phải gắn bó mật thiết với công nhân, nông dân và nhân dân lao động. Đảng và Chính phủ phải biết tôn vinh trí thức và trí thức phải biết tôn trọng Đảng, Chính phủ, tôn trọng nhân dân lao động.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với đội ngũ tri thức Việt Nam. Nguồn: bqllang

Tư tưởng về trí thức của Hồ Chí Minh đã được hình thành ngay từ khi Người còn hoạt động ở nước ngoài và được thể hiện rõ nhất sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhất là trong việc thành lập các Chính phủ lúc bấy giờ. Từ tư tưởng trọng dụng trí thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ xung quanh mình rất nhiều những trí thức nổi tiếng toàn tâm, toàn ý vì đất nước và nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định việc dùng nhân tài không nên khắt khe, miễn họ có lòng trung thành với Tổ quốc, không phản bội lại quyền lợi dân chúng… Người cho rằng những người “tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy”. Quan trọng là trí thức phải biết đem kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ và sự hiểu biết của mình áp dụng vào thực tế. Xa rời thực tế, trí thức trở thành lý luận suông. Bên cạnh đó Đảng và Chính phủ cũng phải có chính sách trọng dụng trí thức, trọng dụng nhân tài hợp lý, tránh để lãng phí bởi “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”.

Trí thức phải có kiến thức sâu sắc về một hay nhiều lĩnh vực so với trình độ hiểu biết chung của mọi người trong xã hội ở từng thời kỳ phát triển nhất định của lịch sử. Ở nước ta hiện nay, đội ngũ trí thức xuất thân từ nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau nhưng chủ yếu là công nhân và nông dân. Đội ngũ trí thức nước ta có tinh thần yêu nước, có lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc, luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Ngày nay, đội ngũ tri thức đã tăng nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng và ngày càng khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế – xã hội. Đội ngũ trí thức đã góp phần tích cực vào mọi mặt đời sống văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội: xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tự đào tạo trí thức mới, cải tạo trí thức cũ để xây dựng đội ngũ tri thức có phẩm chất khoa học, có đạo đức và năng lực thực tiễn cao; kiến tạo các công trình có giá trị về tư tưởng, văn hoá, nghệ thuật…

Thấm nhuần tư tưởng tri thức và trọng dụng tri thức Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, đề cao và tạo điều kiện để đội ngũ tri thức phát huy vai trò tiên phong trong thời kỳ mới. Đảng đã ban hành nhiều Nghị quyết, chỉ thị, chính sách nhằm tạo động lực thúc đẩy đội ngũ trí thức hăng say sáng tạo, nhiệt huyết cống hiến. Nhà nước ta đã thực hiện các chính sách xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống đào tạo, nghiên cứu; đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho sự nghiệp giáo dục, khoa học, công nghệ, kỹ thuật… Cụ thể:

Quan tâm và đánh giá cao vai trò của đội ngũ trí thức trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, tại Hội nghị Trung ương 7 khóa X của Đảng, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 06/08/2008 đã đưa ra năm nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: Hoàn thiện môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động tri thức; thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức; tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức; đề cao trách nhiệm của trí thức, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động các hội của trí thức; nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo của Đảng đối với đội ngũ trí thức.

Trong văn kiện Đại hội Đại biểu đại biểu toàn quốc lần thứ XII khẳng định: “Xây dựng đội ngũ tri thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu sáng tạo. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ và tôn vinh xứng đáng những cống hiến của trí thức. Có cơ chế, chính sách đặc biệt để thu hút nhân tài cho đất nước. Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội của các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội”.

Quan tâm đến xây dựng đội ngũ trí thức và thu hút nhân tài tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học. Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng, môi trường làm việc, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo của trí thức. Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài nước, nhất là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học có khả năng chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ đặc biệt quan trọng. Thật sự tôn trọng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn, phản biện của chuyên gia, đội ngũ tri thức”.

Ngày nay, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về tri thức và trọng dụng tri thức, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến đội ngũ trí thức và trên thực tế đội ngũ trí thức đã thể hiện vai trò nòng cốt tạo ra những sản phẩm có giá trị trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và xây dựng Đảng. Bản thân đội ngũ trí thức phải không ngừng nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ và đạo đức nghề nghiệp. Không ngừng học hỏi, tìm tòi, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ để có tầm nhìn, có khả năng cảnh báo sớm và năng lực biện luận xã hội đối với những vấn đề Đảng, Nhà nước, Nhân dân yêu cầu; giải quyết, đáp ứng các mọi vấn đề liên quan đến đời sống xã hội. Trí thức là có khát vọng, phải biết đấu tranh để khám phá tìm cái mới, sáng tạo, đột phá về thế giới quan, đem hiểu biết áp dụng vào thực tiễn để phục vụ Nhân dân.

Các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong những năm vừa qua đã tạo ra những chuyển biến tích cực góp phần tạo động lực để giới trí thức đóng góp vào quá trình đổi mới phát triển đất nước. Những thành tựu khoa học được đi vào đời sống mang lại những bước đột phá mới cho nền khoa học kỹ thuật nước nhà trong mọi lĩnh vực khoa học-xã hội, nông nghiệp, y học, thiết bị cơ khí công nghệ cao, năng lượng nguyên tử, công nghệ thông tin, công nghệ vệ tinh, vật liệu như: 1.Giàn khoan tự nâng 90m nước – Là giàn khoan đầu tiên của Việt nam có thể đạt độ sâu 90m nước thuộc sở hữu của Tập đoàn dầu khí Việt Nam, giàn khoan có chất lượng nằm trong top 3 khu vực Châu Á và top 10 trên thế giới; 2.Lò phản ứng hạt nhân Đà lạt tái hoạt động – Đã hoạt động 3 lần  (năm 1963, năm 1984, 30/10/2011), đánh dấu bước phát triển trong việc sản xuất năng lượng trong nước, có khả năng cung cấp  một nguồn năng lượng nguyên tử ổn định; 3. Máy soi cắt lớp điện toán trong công nghiệp – Máy được các nhà khoa học của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam thiết kế và sản xuất. Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế đã đặt mua 6 chiếc máy nói trên; 4.Phương pháp phẫu thuật nội soi cắt các khối u tuyến tuỵ thuộc Khoa phẫu thuật bụng – Bệnh viện 103, Hà nội đã đánh dấu một cột mốc mới về phẫu thuật nội soi ổ bụng tại Việt Nam;5. Nghiên cứu và sản xuất thành công vacxin phòng bệnh cho trẻ em (Rotavin-M1: Vacxin phòng bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi), 6. Đề tài thành công trong ghép tạng người của PGD. Đặng Ngọc Hùng (Học viện Quân y) làm chủ nhiệm, 7. Dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông thuộc Trung tâm sản xuất thiết bị điện tử Viettel (thuộc Tập đoàn Viễn thông Viettel) có khả năng sản xuất khoảng 5.000.000 USB, 3.000.000 điện thoại di động và 900.000 máy tính cá nhân mỗi năm, 8. Sản xuất và ứng dụng mới tại Nhà máy Thuỷ điện Sơn La – Công trình thuỷ điện lớn nhất Đông nam Á…

Theo tổng kết của Báo quân khu 1: Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW, cả nước đã tăng hơn 3,7 triệu người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên. Đội ngũ trí thức Việt Nam đã tăng thêm khoảng 2,8 triệu người. Lĩnh vực văn học-nghệ thuật có hơn 43.000 văn nghệ sĩ, đa phần đã qua đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; không ít văn nghệ sĩ có trình độ cao, tạo được hiệu ứng xã hội tốt. Trong các lĩnh vực đặc biệt như quốc phòng, so với năm 2008, số lượng trí thức đã tăng 68%, có những đơn vị như Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội đã tăng 200%… Ngoài trí thức trong nước, còn có khoảng hơn 400.000 trí thức Việt kiều (trong đó có hơn 6.000 tiến sĩ và hàng trăm trí thức tên tuổi được đánh giá cao). Những năm qua, đội ngũ trí thức trực tiếp tham mưu, góp ý, phản biện vào những quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước. Trong xây dựng và hoàn thiện chủ trương, đường lối, chính sách, hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) của Đảng và chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở đều có sự đóng góp tích cực của đội ngũ trí thức.

Bên cạnh những thành tựu đáng tự hào, so với yêu cầu phát triển đất nước, sự phát triển của đội ngũ trí thức nước ta còn một số hạn chế. Một số quy định triển khai chưa đạt mục tiêu đề ra, nhiều văn bản ban hành còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu tính hệ thống giữa các lĩnh vực dẫn tới thực hiện không hiệu quả. Môi trường làm việc ở một số nơi chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng trí thức chuyên tâm cống hiến, xảy ra tình trạng “chảy máu chất xám” gây lãng phí về tài lực và nhân lực. Thực tế nước ta đang thiếu các nhà lãnh đạo quản lý tầm cỡ, các chuyên gia giỏi, các nhà khoa học tâm huyết với nghề, các công chức trong bộ máy chính quyền tinh thông nghiệp vụ, có đạo đức, tận tâm vì nhân dân phục vụ.

 Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về tri thức và trọng dụng trí thức cần nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức nước ta trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, trong kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự chuyển đổi công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang diễn ra mạnh. Cuộc cách mạng chuyển đổi công nghệ số và trí tuệ nhân tạo sẽ làm cho cơ cấu xã hội biến đổi và tổ chức chính quyền nhà nước các cấp tinh gọn, hiệu quả hơn. Đứng trước nhiều thách thức như vậy đòi hỏi nước ta phải hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng với đội ngũ trí thức; đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đặc biệt nguồn nhân lực có chất lượng cao; trọng dụng người tài, sử dụng người tài đúng sở trường, chuyên môn phù hợp; phổ biến tuyên truyền nâng cao nhận thức về trách nhiệm, nghĩa vụ, đạo đức nghề nghiêp cho đội ngũ trí thức; có chính sách đãi ngộ hợp lý tạo động lực mạnh mẽ cho các lĩnh vực phát minh, sáng chế, công nghệ, điều hành, quản lý và tổ chức xã hội. Bản thân đội ngũ trí thức phải phát huy vai trò tiên phong bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng; tận dụng, tiếp thu, làm chủ được thành tựu khoa học; hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của giai cấp trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đẩt nước, tiến đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng – dân chủ – văn minh.

Tác giả: Phùng Thu Hiền

Bài trướcVai trò lãnh đạo của Đảng trong hoạt động công đoàn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Bài tiếp theoGame blockchain Việt bước ra thị trường thế giới